Rạng sáng ngày hai mươi tháng giêng năm Kiến An thứ năm.
Tại doanh trại cách cửa tây thành Hạ Bì, trị sở mới của Từ Châu, chừng năm dặm, Trương Toại đích thân lên đài điểm tướng.
Đứng quanh hắn là Điền Phong, Trần Đăng, Trần Cung, Trương Hợp, Cao Lãm, Điền Dự, Lưu Diệp, Triệu Vân, Cam Ninh, Trương Liêu, Tang Bá, Lỗ Túc, Trần Kiểu, Trần Đáo, Trương Huân, Lưu Giai, Tôn Quan, Hứa Đam, Ngụy Tục cùng rất nhiều văn thần võ tướng.
Nhìn đội ngũ hùng hậu ấy, trong lòng Trương Toại dâng lên niềm hào hứng khó tả.
Từ ngày xuyên tới thế giới này, cuối cùng hắn cũng có một ban văn võ đông đảo thuộc về mình!
Đây mới chỉ là nhân tài ở Từ Châu và Lư Giang.
Nghĩ tới Thư Thụ, Tân Bì, Tuân Kham, Cao Nhu, Nhan Lương, Văn Sú, Vương Hạo và những văn thần võ tướng vẫn đang ở Hà Bắc, trong lồng ngực Trương Toại như có một luồng khí nóng cuộn trào, khiến hắn chỉ muốn ngửa mặt hét lớn.
Điền Phong đứng bên cạnh, nhìn Trương Toại lần lượt gọi tên từng tướng lĩnh, nhìn mỗi người bước ra nhận quân lệnh, rồi nhìn mấy vạn quân sĩ chỉnh tề dưới đài, trong lòng cũng đầy cảm khái.
Cuối cùng đã có cơ nghiệp thật sự!
Với cục diện hiện giờ, chỉ cần Trương Toại không phạm sai lầm quá lớn, nếu một lòng giữ vững thành quả thì không ai trong thiên hạ có thể dễ dàng lay chuyển hắn.
Sau khi điểm đủ binh tướng, Trương Toại đích thân tiễn các tướng lên ngựa.
Cuối cùng, hắn căn dặn Điền Phong và Triệu Vân phải lần lượt giữ vững Từ Châu, Lư Giang.
Còn bản thân Trương Toại dẫn Hoàng Nguyệt Anh ngồi trên chiến xa, được đội thân binh bảo vệ, đi theo đại quân cuồn cuộn rời Hạ Bì, tiến về huyện Thọ Xuân.
Thọ Xuân lúc này.
Trên tường thành, cờ xí tung bay, vô số binh sĩ qua lại không ngừng.
Ngoài thành là một vùng hoang vu. Hài cốt nằm rải rác khắp nơi, bị chó hoang kéo tới gặm nhấm.
Qua bốn cửa thành, từng đoàn dân chúng quần áo rách rưới, thân hình tiều tụy ra vào trong ánh mắt lạnh lùng của quân canh gác.
Dọc hai bên con đường phía trong cổng, dưới mái hiên những căn nhà, vô số lưu dân gầy trơ xương nằm ngổn ngang. Nha dịch đi lại liên tục, chăm chăm đề phòng những người đã gần kiệt sức ấy.
Nhưng càng tiến sâu vào thành, nhà cửa hai bên đường càng cao lớn và tráng lệ.
Con cháu các thế gia mặc áo quần đẹp đẽ vẫn ra vào cửa hàng, chợ búa tấp nập, tạo nên một cảnh tượng hoàn toàn khác biệt.
Trước một tiệm may, một lão nhân mặc áo vải thô, đôi mày nhíu chặt, được một nam một nữ dìu ra ngoài.
Lão tên Diêm Tượng, từng là chủ bộ dưới trướng Viên Thuật.
Khi Viên Thuật xưng đế, vì kịch liệt phản đối và thẳng thừng mắng rằng hành động ấy sẽ khiến cơ nghiệp diệt vong, Diêm Tượng bị tống vào địa lao.
Mãi tới hôm qua, nhờ người đồng liêu cũ là ngự sử đại phu Viên Hoán hết sức vận động, lão mới được thả.
Đêm qua, Diêm Tượng đã trò chuyện rất lâu với Viên Hoán.
Biết ba năm trước, khi bị Tào Tháo tiến công, Viên Thuật liên tục co rút địa bàn, cướp sạch lương thực của dân rồi tích trữ tất cả trong thành Thọ Xuân; sau đó lại để mất Lư Giang, Diêm Tượng suýt không thở nổi.
Viên Thuật là con trai dòng chính của Viên gia bốn đời tam công!
Năm xưa, khi còn làm Hậu tướng quân, hắn từng nắm trong tay mười quận và một nước thuộc Dương Châu, Dự Châu, Nam Dương, là một trong những chư hầu lớn mạnh nhất thiên hạ.
Mới trôi qua bao nhiêu năm?
Vậy mà cơ nghiệp đã suy tàn đến mức này!
Điều khiến Diêm Tượng tuyệt vọng hơn là qua lời Viên Hoán, lão biết Từ Châu mục Trương Toại đang dẫn bốn đạo đại quân, tổng cộng gần ba vạn người, hùng hổ tiến về Thọ Xuân.
Trương Toại là ai?
Vì sao một người dường như đột nhiên xuất hiện lại có thể đem tới uy hiếp khủng khiếp như vậy cho Viên Thuật?
Sau một đêm trò chuyện, Diêm Tượng đã hiểu Viên Thuật thật sự cùng đường, không còn khả năng cứu vãn.
Lão chỉ có thể từ biệt Viên Hoán, chuẩn bị tới Lư Giang tận mắt xem Trương Toại là người thế nào.
Rời tiệm may, Diêm Tượng được con trai út và con dâu dìu đi. Ba người mang theo hành lý, chậm rãi tiến về cổng thành.
Càng tới gần cửa, đôi mày Diêm Tượng càng nhíu chặt.
Tới nơi, bước chân lão hoàn toàn dừng lại.
Trong và ngoài cổng thành chẳng khác gì địa ngục giữa nhân gian.
Vậy mà nơi sâu trong Thọ Xuân vẫn là cảnh ca múa thái bình, quan lại và quý tộc sống trong nhung lụa.
Diêm Tượng chậm rãi quay người, nhìn về hướng hoàng cung nơi sâu nhất trong thành. Vẻ mặt lão trở nên hoảng hốt.
Đây thật sự là Viên Thuật mà năm xưa lão từng một lòng thề chết đi theo sao?
Trong ba năm lão bị giam dưới địa lao, rốt cuộc Viên Thuật đã làm gì để biến vùng đất rộng lớn dưới quyền thành bộ dạng này?
Thấy cha già nước mắt tuôn đầy mặt, người con trai út khàn giọng an ủi:
— Phụ thân, đừng đau lòng nữa.
— Viên Thuật hôm nay đã không còn là Viên Thuật năm xưa.
— Từ khi xưng đế, hắn xa hoa vô độ, coi mạng dân như cỏ rác. Hiện giờ trong phạm vi trăm dặm quanh Thọ Xuân gần như không còn mấy hộ dân.
Người con trai nhìn những thân thể hấp hối quanh đường:
— Mấy năm qua vốn đã gặp hạn lớn, dân chúng không có gì ăn, thậm chí phải đổi con cho nhau để sống sót.
— Sau khi bị Tào Tháo tiến công, Viên Thuật còn thu vét toàn bộ lương thực, chuyển hết vào thành Thọ Xuân.
— Hai năm trước, trong trận hạn hán ở huyện Bái, tám chín phần mười dân chúng chết đói. Vậy mà hắn vẫn bắt những người còn sống đem toàn bộ lương thực tới đây.
— Bái tướng Thư Thiệu liều chết cầu xin hắn khai ân. Hắn chẳng những không nghe mà còn giết Thư Thiệu.
Người con trai nghiến răng:
— Suốt hai năm sau đó, hắn chỉ biết dẫn văn võ bá quan ở Thọ Xuân sống trong men rượu và ca múa.
— Ngoài An Phong, Lục An, Hạ Thái và Đương Đồ quanh đây, hắn đã không còn địa bàn nào khác.
— Trái lại, Từ Châu dù từng trải qua cuộc tàn sát của Tào Tháo, từ khi Trương Toại tiếp nhận chức châu mục đã thi hành chế độ đồn điền và công điểm. Dân chúng chỉ cần tới đó, chịu làm việc, liền có cơm ăn áo mặc.
— Phần lớn dân chúng vùng chúng ta đã chạy sang đầu quân cho họ.
Hắn nhìn quanh những người thoi thóp trên mặt đất, thở dài:
— Số người còn lại ở đây đều vì khi trong tay vẫn còn chút lương thực, họ ôm hy vọng Viên Thuật sẽ tỉnh ngộ, sẽ một lần đối xử với dân như con người.
— Nhưng sự thật chứng minh sói dữ không bao giờ thương xót cừu non. Bùn nhão cũng không thể trát lên tường.
— Những người này đang dùng chính tính mạng để cảnh cáo chúng ta: ở lại chỉ có đường chết.
Diêm Tượng nghe xong, thở ra một hơi dài. Lão lau nước mắt trên gương mặt già nua rồi được con trai và con dâu dìu, tập tễnh rời thành Thọ Xuân, đi về phía nam.
Ba người vừa đi được hơn năm dặm, một chiến mã đã phi như bay từ xa tới.
Người lính trên lưng ngựa cắm đầy tên. Máu thấm ướt toàn thân hắn.
Chiến mã chở người ấy lướt qua Diêm Tượng, chạy thêm gần hai trăm bộ rồi người lính mới cứng đờ rơi xuống đất.
Hơi thở Diêm Tượng trở nên dồn dập. Lão vừa định sai con trai tới kiểm tra thì mặt đất dưới chân bỗng rung nhẹ.
Chấn động mỗi lúc một rõ, một lúc một mạnh!
Con dâu út của Diêm Tượng sợ tới tái mặt, hai chân mềm nhũn rồi ngồi phịch xuống đất.
Người con trai cũng run cả môi.
Trên gương mặt già nua của Diêm Tượng thoáng hiện nỗi sợ. Nhưng lão lập tức trấn tĩnh, chỉ xuống đất:
— Con nằm xuống, áp tai nghe thử động tĩnh.
Người con trai bừng tỉnh, vội làm theo.
Một lúc lâu sau, hắn ngẩng đầu nhìn về phía đông, giọng run rẩy:
— Phụ thân, ngay phía trước! Người ngựa trải khắp núi đồi, cảm giác đã rất gần chúng ta!