Nghe Trương Toại nói xong, Từ Vinh, Hoàng Hàm, Chân Hạo cùng các tướng đều nghiêm túc gật đầu.
Trương Toại dẫn Triệu Thống và đội thân vệ vào doanh. Hắn sai quân đầu bếp mang tới ít thức ăn đơn giản, ăn qua loa cho no bụng rồi nằm xuống ngủ ngay.
Suốt năm ngày từ Nghiệp Thành chạy tới Lê Dương, người và ngựa gần như không có lúc nghỉ. Trương Toại đã mệt đến kiệt sức, vừa chạm giường liền chìm vào giấc ngủ sâu.
Khi tỉnh lại, mặt trời ngày hôm sau đã lên quá đỉnh đầu.
Hắn bước ra khỏi trướng, lập tức thấy Từ Vinh cùng gần một nghìn kỵ binh bản bộ xếp thành đội ngũ chỉnh tề bên ngoài. Vừa nhìn thấy hắn, tất cả đồng loạt xuống ngựa, tiếng hô vang dội khắp doanh:
“Chúa công!”
Trương Toại đưa mắt nhìn hết hàng quân. Gần một nghìn người, dường như không thiếu bất cứ ai.
Hắn vốn tự nhận da mặt dày, bao năm qua hiếm khi rơi lệ. Nhưng lúc này, trước những gương mặt nghiêm trang của các kỵ binh đã lựa chọn ở lại, hốc mắt hắn vẫn cay xè.
Trương Toại ngẩng đầu, ép dòng nước mắt trở lại. Một lúc lâu sau hắn mới nhìn xuống, nở nụ cười rồi chậm rãi đi dọc đội hình.
“Người lính không muốn làm tướng quân thì không phải người lính giỏi. Nhưng muốn trở thành tướng quân, nhất định phải trải qua thử thách sống chết.”
“Con đường phía trước đầy gian nan. Có lẽ các ngươi sẽ phải tận mắt chứng kiến huynh đệ bên cạnh ngã xuống. Song xưa nay, muốn làm nên việc lớn chưa bao giờ dễ dàng.”
“Ta nói thật với các ngươi, nhiệm vụ lần này vô cùng nguy hiểm, nhưng cũng là cơ hội tốt nhất để lập công. Không có đội quân nào dễ giành được chiến công hơn các ngươi, bởi các ngươi là kỵ binh bản bộ của ta.”
Trương Toại vừa đi vừa nhìn từng người:
“Hãy nhìn về phía trước. Trong số các ngươi rồi sẽ có rất nhiều người trở thành tướng lĩnh, thậm chí lưu danh sử sách.”
“Cũng có thể một ngày kia chúng ta quét sạch thiên hạ, những người còn sống trở về sẽ an hưởng tuổi già trong phủ đệ rộng lớn. Khi ấy, con cháu hỏi vì sao gia tộc mình có được cơ nghiệp giàu sang, các ngươi có thể vỗ ngực mà trả lời: tổ phụ của chúng từng theo chúa công tung hoành sa trường, đánh lui những kẻ địch mạnh nhất.”
“Địa vị khi ấy đều do chính các ngươi dùng chiến công đổi lấy. Thời thế sinh ra anh hùng, anh hùng cũng phải thuận theo thời thế. Tiền đồ và công danh không bao giờ tự nhiên rơi xuống trước mặt chúng ta.”
Hắn bất ngờ giơ nắm tay, gầm lớn:
“Tất cả đều phải dựa vào máu và tính mạng của chính mình để giành lấy!”
“Kẻ nào ngăn đường kiến công lập nghiệp, chúng ta sẽ chém đầu kẻ đó, giẫm qua thân xác hắn mà tiến lên!”
“Chí lập công không bao giờ ngừng! Người thiện chiến nhất định sẽ có công lao hiển hách!”
“Hôm nay các ngươi chỉ là binh sĩ. Nhưng theo ta chinh chiến, các ngươi cũng có cơ hội phong hầu, thậm chí xưng vương!”
“Cuối thời Tần, Trần Thắng và Ngô Quảng cầm vũ khí nổi dậy. Ta luôn nhớ câu họ từng nói: vương hầu tướng lĩnh đâu phải trời sinh!”
“Binh sĩ dưới trướng Trương Toại ta, lẽ nào không có ai đủ sức phong hầu xưng vương? Bước ra đây nói cho ta nghe!”
Đúng lúc đi tới người lính cuối hàng, Trương Toại dừng lại, rút thanh Hoàn Thủ đao bên hông người ấy rồi quát:
“Ngươi có muốn phong hầu xưng vương không?”
Cả doanh trại chợt im phăng phắc.
Người kỵ binh kia nhìn khuôn mặt dữ dằn của Trương Toại, nhất thời có chút sợ hãi. Nhưng Trương Toại vẫn đứng yên, nhìn thẳng vào mắt hắn.
Một lúc lâu sau, kỵ binh nhắm chặt mắt, lấy hết sức hét lên:
“Muốn! Nằm mơ cũng muốn!”
Trương Toại nắm cổ tay hắn, giúp hắn giơ cao Hoàn Thủ đao:
“Vậy thì liều mạng mà giành lấy! Người được phong hầu xưng vương nhất định phải có tên ngươi!”
Kỵ binh mở bừng mắt. Mặt hắn đỏ bừng, gân xanh nổi lên trên trán, tiếp tục gào:
“Ta muốn xưng vương!”
Trương Toại cũng hét theo:
“Ta muốn xưng vương!”
Gần một nghìn kỵ binh lập tức đồng thanh. Tiếng hô nối tiếp tiếng hô, dội khắp doanh trại như sấm động. Mọi người hô đến mấy chục lần, cổ họng gần như khản đặc mới dần dừng lại.
Trương Toại ra lệnh cho quân đầu bếp lập tức nấu cơm. Dùng bữa trưa xong, toàn quân nhổ trại, tiến thẳng ra bến cảng.
Họ vượt Hoàng Hà rồi đổ bộ ở Bạch Mã.
Tào Tháo đã bố trí hai nghìn bộ binh đóng tại đây. Quân coi giữ nhận được tin đại quân từ Hứa Đô sắp kéo tới, được lệnh chuẩn bị nghênh đón, tăng cường phòng bị và luôn theo dõi động tĩnh của quân Lê Dương bên kia Hoàng Hà.
Nhưng Trương Toại tới quá nhanh.
Khi quân Tào phát hiện đối phương đang vượt sông, họ mới vội vàng tập hợp. Hai nghìn bộ binh còn chưa kịp kéo tới bờ, Trương Toại đã dẫn một nghìn kỵ binh xông thẳng vào đội hình.
Thế công của kỵ binh như dòng lũ cuốn qua đồng bằng. Quân Tào chưa kịp dựng trận đã bị phá tan. Trương Toại cố ý thả hai người sống sót chạy đi báo tin, số còn lại đều bị tiêu diệt.
Sau trận đánh, hắn sai binh sĩ thu gom thủ cấp của quân địch, chất thành một gò lớn trên khoảng đất trống ở Bạch Mã. Bên cạnh gò cắm mấy cột cờ, treo ba lá đại kỳ do chính tay hắn vẽ.
Lá thứ nhất vẽ Trương Toại giẫm lên đầu Tào Tháo. Lá thứ hai vẽ cảnh hắn tiến vào Hứa Đô nghênh đón thiên tử. Lá cuối cùng vẽ Tuân Du quỳ phục dưới chân Trương Toại, khẩn khoản cầu xin tha mạng.
Đó là lời khiêu khích được bày ngay giữa đường, đủ để bất kỳ tướng Tào nào nhìn thấy cũng phải nổi giận.
Thi thể của hai nghìn bộ binh Tào được chôn cất để tránh sinh dịch bệnh. Còn một nghìn kỵ binh dựng doanh ở vị trí cách gò thủ cấp chưa đầy hai dặm. Soái trướng của Trương Toại được đặt ngay hàng đầu, như thể hắn sợ quân Tào không biết mình đang chờ ở đâu.
Trong lúc Trương Toại ngồi tại Bạch Mã đợi đại quân Tào Tháo, cách đó một trăm bốn mươi dặm, ngoài cửa nam thành Hồ Huyện cũng đang xảy ra một chuyện khác.
Một đám quan viên đứng cách thành ba dặm, vẻ mặt căng thẳng nhìn về phía nam.
Đột nhiên, nơi chân trời xuất hiện vô số chấm đen. Chúng nhanh chóng lớn dần, hóa thành đội ngũ binh sĩ trải rộng khắp đồng nội.
Các quan viên mừng rỡ kéo lại áo mũ, kích động nói:
“Tới rồi!”
Giữa biển người là những lá cờ lớn mang chữ “Hạ Hầu”, chữ “Tào”. Ở trung quân, vài chục kỵ binh vây quanh một số tướng lĩnh cùng một cỗ xe ngựa.
Người đi đầu có thân hình cao lớn, mặc thiết giáp, tay cầm trường đao. Đó chính là chủ soái của đạo quân này, Hạ Hầu Đôn.
Trước đây, nhờ mưu lược của quân sư Giả Hủ, Hạ Hầu Đôn từng thống lĩnh đại quân đánh Viên Đàm ở Bộc Dương, suýt khiến năm vạn quân Thanh Châu bị tiêu diệt toàn bộ. Với chiến công ấy, Tào Tháo đã dâng tấu lên thiên tử, phong ông làm Duyện Châu mục, gia thêm chức Kiến Võ tướng quân. Hai chữ Kiến Võ mang ý uy dũng, hùng bá, đủ cho thấy Tào Tháo coi trọng ông tới mức nào.
Bên cạnh Hạ Hầu Đôn là một tráng hán chừng bốn mươi tuổi. Người này tên Tào Nhân, em họ của Tào Tháo, lần này giữ chức phó tướng. Tuy có thân hình vạm vỡ, Tào Nhân lại nổi tiếng suy nghĩ kín đáo, làm việc thận trọng.
Phía sau hai người là một cỗ xe ngựa. Trong xe, một ông lão râu tóc bạc trắng đang ngồi thẳng lưng. Dáng ông gầy gò nhưng tinh thần vẫn sắc bén. Đó là Trình Dục, một trong những mưu sĩ chủ chốt dưới trướng Tào Tháo, cũng là quân sư của Hạ Hầu Đôn trong chuyến xuất chinh này.
Trình Dục vén rèm cửa sổ, thò đầu ra, trầm giọng hỏi hai tướng đang cưỡi ngựa phía trước:
“Hạ Hầu tướng quân, Tào tướng quân, các ngươi có thấy chuyện này bất thường không? Đã gần nửa ngày mà chẳng có người nào từ Bạch Mã tới báo cáo tình hình.”
“Ta nhớ đã truyền lệnh rất rõ: quân coi giữ Bạch Mã, cứ một canh giờ phải gửi tin về một lần!”
Hạ Hầu Đôn quay lại, cười trấn an:
“Quân sư đừng quá lo. Chúng ta sắp vào huyện thành rồi. Từ đây tới Bạch Mã chỉ một trăm bốn mươi dặm. Nếu nơi đó thật sự xảy ra biến cố lớn, dân chúng quanh thành hẳn đã có phản ứng.”
“Ta thấy người dân ra vào cổng thành vẫn trật tự như thường. Có lẽ Bạch Mã chưa xảy ra chuyện nghiêm trọng.”
Hạ Hầu Đôn vừa dứt lời, từ xa đã thấy một kỵ sĩ lao như bay tới chỗ các quan viên nghênh đón. Người ấy ghìm ngựa, vội vàng nói gì đó.
Ngay sau đó, một viên quan trong đám người bỗng ngã vật xuống đất.
Hạ Hầu Đôn và Tào Nhân nhìn nhau. Nét cười trên mặt cả hai đồng thời biến mất, chân mày dần cau lại.