HỌ ĐỨNG TRONG SÂN TRONG CỦAmộtKHU NHÀ KHÉP KÍN, như kiểumộttu viện. Những bức tường gạch đỏ được cây leo phủ kín. Những cây mộc lan mọc nứt cả gạch lát. Mặt trời chiếu ánh nắng chói chang và độ ẩmthìkhoảng hai trăm phần trăm, thậm chí còn ẩm ướt hơn cả Houston. Từ đâu đó gần đấy, Leo ngửi thấy mùi cáđangrán.trênđầu, màn mây thấp và xám xịt, vằn vện như lông hổ.
Khoảnh sân lớn cỡmộtsân bóng rổ.mộtquả bóng đá cũ xì hơi nằm lăn lócmộtgóc, dưới chânmộtbức tượng Đức Mẹ Đồng Trinh.
Dọc theo những tòa nhà, các cửa sổ đều mở. Leo có thể thấy thấp thoáng những cử động bên trong, nhưng mọi thứ lại im lặngmộtcách kì quái. Cậukhôngthấy dấu hiệu gì của máy điều hòakhôngkhí, có nghĩa là bên trong chắc phải nóng đến cả nghìn độ.
“Bọn mìnhđangở chỗ nào đây?” Cậu hỏi.
“Trường cũ của em,” Hazel đứng bên cạnh cậunói. “Học viện Thánh Agnes Cho Trẻ Em Da Màu Và Da Đỏ.”
“Tên kiểu gì–?”
Cậu quay sang Hazel và giật mình kêu lên.côlàmộtbóng ma–chỉ làmộtcái bóng mờ sương trongkhôngkhí ẩm thấp. Leo nhìn xuống và nhận ra thân thể của chính cậu cũng biến thành sương khói.
Mọi thứ chung quanh cậu đều có vẻrõnét và rấtthật, nhưng cậu lại làmộtlinh hồn. Sau vụ bị eidolon nhập ba ngày trước, cậukhôngkhoái cái cảm giác này tẹo nào.
Trước khi cậu kịp thắc mắc thêm,mộthồi chuông vang lên từ bên trong:khôngphải tiếng chuông điệnhiệnđại, mà làâmthanh kiểu xưa củamộtchiếc búa gõ lên kim loại.
“Đây làmộtkí ức,” Hazelnói, “vậy nênsẽkhôngcó ai trông thấy bọn mình cả. Nhìn kìa, bọn em đến rồi.”
“Bọn em á?”
Từ khắp các cánh cửa, từng tá từng tá học sinh ùa ra sân, hò hét và xô đẩy nhau. Hầu hết trong số chúng mang dòng máu Mĩ-Phi, vớimộtnhúm rải rác những đứa trông như trẻ con Mĩ-Latin, bé bằng trẻ con mẫu giáo cũng có mà lớn cỡ học sinh cấp ba cũng có. Leo có thể nhận ra đây là quá khứ, vì tất cả đám congáiđều mặc váy vàđigiày da cài khóa[1]. Đám con traithìmặc áo sơ-mi trắng có cổ và quần tây có dây đeo. Nhiều đứa đội mũ lưỡi trai giống mũ của mấy tay đua ngựa[2]. Vài đứa mang theo đồ ăn trưa. Nhiều đứa khácthìkhông. Quần áo của bọn chúng sạchsẽ, nhưng sờn rách và bạc màu. Vài đứa có chỗ rách ở quần chỗ đầu gối hay giày bị há mõm.
Vài đứa congáibắt đầu chơi nhảy dây bằngmộtđoạn dây phơi quần áo. Mấy đứa lớn hơnthìchuyền qua chuyền lạimộtquả bóng chày cũ mèm. Những đứa mang đồ ăn trưathìngồi túm tụm vừa ăn vừa tán dóc.
Chẳng ai để ý thấy Ma Hazel hay Ma Leo.
Rồi Hazel – Hazel của quá khứ – xuống sân. Leo nhận racôchẳng khó khăn gì, dù trôngcôtrẻ hơn bây giờ khoảng hai tuổi. Tóccôđược kẹp lại thànhmộttúm. Đôi mắt vàng củacôbồn chồn đảo quanh khoảnh sân.cômặcmộtchiếc váy tối màu,khônggiống những đứa congáikhác mặc váy vải bông trắng hay màu nhạt in hoa, vì vậycônổi bật nhưmộtngười khóc than giữamộtđám cưới vậy.
côcầmmộttúi đựng đồ ăn trưa bằng vải bạt vàđimen theo bức tường, nhưđangcố hết sức đểkhôngbị chú ý.
Cách đókhônghiệu quả.mộtthằng con trai kêu lên, “Đồ phù thủy!” Nó ì ạchđiđến chỗcô, dồncôvàomộtgóc. Đứa con trai có lẽ mười bốn hay mười chín tuổi. Khó mànóirõđược vì nó cực kì đô con, dễ chừng là đứa to xác nhất trong sân. Leo nhận thấy nóđãbị cản lại mấy lần. Đứa con trai mặcmộtcái áo sơ mi bẩn thỉu có màu củamộtcái giẻ lau dầu máy, quần sợi len mòn xơ (với cái nóng như thế nàythìchẳng dễ chịu gì), và chẳng giày tất gì sất. Có lẽ các giáo viên quá kinh hãi để mà bắt thằng nàyđigiày, hay có lẽ nó chẳng có đôi giày nào.
“Đấy là Rufus,” Ma Hazelnóiđầy vẻ chán ghét.
“Nghiêm túc đó hả?khôngđời nào mà thằng đó lại tên là Rufus.” Leonói.
“đinào,” Ma Hazelnói.côlướt về phía cuộc đối đầu. Leo lướt theo. Cậukhôngquen lướtđi, nhưng cậu từngđixe Segway[3]mộtlần và nó cũng tương tự như vậy.
Thằng nhóc đô con Rufus cómộtkhuôn mặt bèn bẹt, như thể nó dành phần lớn thời gian cắm mặt hôn vỉa hè. Tóctrênđỉnh đầu nó cũng được cắt bằng, đến nỗi máy bay mini có thể dùng chỏm đầu nó làm đường băng hạ cánh.
Rufus chìa tay ra. “Bữa trưa.”
Hazel trong quá khứkhôngnóigì.côđưa cái túi vải bạt ra như thể đó là chuyện cơm bữa hàng ngày.
Mấy đứa congáilớn xúm đến xem trò vui.mộtđứa cười khúc khích với Rufus. “Màykhôngmuốn ăn thứ đấy đâu,” con bé cảnh báo. “Dám có độc trong đó lắm.”
“Màynóiđúng,” Rufusnói. “Con mẹ phù thủy của mày làm cái này hả, Levesque?”
“Mẹkhôngphải phù thủy,” Hazel lẩm bẩm.
Rufus ném cái túi xuống đất và dẫm lên nó, nghiền nát các thứ bên trong bằng bàn chân trần của nó. “Trả mày đấy. Nhưng tao muốnmộtviên kim cương. Tao nghenóimẹyêucủa mày biến được ra mấy thứ đó từkhôngkhí. Đưa taomộtviên kim cương.”
“Tôikhôngcó kim cương,” Hazelnói. “Cútđi.”
Rufus co tay lại thành nắm đấm. Leođãở nhiều trường học và nhà nhận nuôi khắc nghiệt đủ để nhận biết khi nào chuyện sắp thành ra tồi tệ. Cậu muốn bước tới và giúp Hazel, nhưng cậu làmộtbóng ma. Hơn nữa, tất cả những chuyện nàyđãxảy ra từ vài chục năm trước rồi.
Rồimộtđứa khác loạng choạng bước ra dưới ánh mặt trời.
Leo hít sâumộthơi. Cậu nhóc đó trông y chang cậu.
“anhthấy chưa?” Bóng Ma Hazel hỏi.
Leo Dỏm có chiều cao bằng Leothật– có nghĩa là lùn. Cậu ta cũng có cùng kiểu năng lượng bồn chồn đó – gõ gõ ngón tay lên quần mình, phủi phủi áo sơ mi, chỉnh chỉnh cái mũ lưỡi trai kỵ sĩtrênmái tóc nâu xoăn xoăn của mình. (thậttình, Leo nghĩ, người thấp békhôngnên đội mũ cưỡi ngựa, trừ phi họ là tay đua ngựa.) Leo Dỏm có nụ cười tinh quái tương tự như nụ cười vẫn cười với Leothậtmỗi lần cậu nhìn vào gương —mộtvẻ mặt khiến các thầycôgiáo phải lập tức quát lên, “Đừng có hòng mà nghĩ đến chuyện đấy!” và xách cổ cậu lên hàng đầu.
Có vẻ như Leo Dỏm vừa bịmộtthầycônào đấy quở mắng. Cậu tađangcầmmộtcái mũ lừa[4] –mộtcái mũ lừa hàng-thật-giá-thậtbằng bìa cứng có viết chữ ĐẦN ĐỘNtrênmặt. Leo cứ tưởng mấy thứ này chỉ có trong hoạt hình thôi chứ.
Leo có thể hiểu tại sao Leo Dỏmkhôngđội cái mũ đó. Trông giốngmộttay đua ngựa làđãđủ tệ lắm rồi. Cái mũ đó mà ngồitrênđầu cậu tathìcậu tasẽtrông nhưmộtthần lùn giữ của[5] mất.
Vài đứa lùi lại khi Leo Dỏm nhảy vàohiệntrường. Những đứa khácthìhuých nhau chạy về phía cậu ta nhưđangmong chờmộtmàn hay.
Trong lúc đó, Rufus Đầu Bẹt vẫnđangcố moimộtviên kim cương từ Hazel, mù tịt vềsựxuấthiệncủa Leo Dỏm.
“Nào,côgái.” Rufus gườm gườm nhìn Hazel, nắm đấm siết chặt. “Đưa nó đây!”
Hazel nép sát vào bức tường phía sau. Đột nhiên mặt đất dưới châncôkêu tạchmộttiếng, như tiếngmộtnhánh cây gãy.mộtviên kim cương hoàn hảo to cỡ hạt dẻ cười lấp lánh nằm giữa hai bàn châncô.
“Ha!” Rufus rống lên khi nhìn thấy nó. Nó bắt đầu cúi xuống, nhưng Hazel kêu lên, “Làm ơn, đừng!” như thểcôđanglo lắng cho thằng đần to xác.
Đó cũng là lúc Leo Dỏm nhởn nhađitới.
Đến rồi đây, Leo nghĩ. Leo Dỏmsẽtung ra mấy đòn nhu thuật[6] kiểu HLV Hedge và lập chiến công.
Thay vì vậy, Leo Dỏm đưa chóp của cái mũ lừa lên trước miệng mình nhưmộtcái loa và gào lên, “CẮT!”
Cậu tanóicâu đó với đầy quyền uy đến nỗi tất cả đám nhóc còn lại đứng hình trong giây lát. Ngay cả Rufus cũng đứng thẳng dậy và hoang mang lùi lại.
mộtđứa con trai bé khúc khích cười thầm: “Hammy Sammy.”
Sammy… Leo rùng mình. Tên này là đứa quái quỷ nào vậy?
Sammy/Leo Dỏm lao tới chỗ Rufus với cái mũ lừatrêntay, vẻ mặt giận dữ. “không,không,không!” cậu ta phán, điên cuồng vẫy cái tay rảnh với những đứa khácđangxúm vào xem trò vui.
Sammy quay về phía Hazel. “Tiểu thư Lamarr, lời thoại củacôphải là…” Sammy bực dọc nhìn chung quanh. “Kịch bản đâu! Lời thoại của Hedy Lamarr là gì?”
“‘không, làm ơn, đồ xấu xa’”mộtđứa con trai đáp.
“Cám ơn!” Sammynói. “côLamarr,côphảinói,không, làm ơn, đồ xấu xa! Còn cậu, Clark Gable – “[7]
Cả sân chơi phá ra cười. Leo chỉ biết lơ mơ rằng Clark Gable làmộtdiễn viên thời xưa, còn lạithìcậu mù tịt. Dù vậy, có vẻ như cái ý rưởng Rufus Đầu Bẹt có thể là Clark Gable là cực kì khôi hài với đám nhóc ở đây.
“Ngài Gable–”
“không!”mộtđứa congáikêu lên. “Cho nó làm Gary Cooper[8]đi!”
Thêm nhiều tiếng cười nữa. Rufus trông như thểđangsắp nổi khùng. Nó siết chặt nắm đấm như muốn đánh ai đó, nhưng nókhôngthể tấn công cả trường được.rõràng là nó ghét bị cười nhạo, nhưng đầu óc bénhỏchậm chạp của nó lạikhôngthể ngộ ra Sammyđangđịnh làm gì.
Leo gật đầu tán thưởng. Sammy đúng là rất giống cậu. Cậuđãlàm những trò tương tự với đám ưa bắt nạt hàng nhiều năm trời.
“Rồi!” Sammy hống hách kêu lên. “Cậu Cooper, cậunói, Ồ, nhưng viên kim cương này là của tôi,côem gian trá của tôi ạ! Rồi cậu hãy lượm lấy viên kim cương như thế này này!”
“Sammy, đừng!” Hazel kêu lên, nhưng Sammyđãlượm viên đá lên và nhét nó vào túi cậu ta bằngmộtcử động mượt mà.
Cậu xoay về phía Rufus. “Tôi muốn cảm xúc! Tôi muốn các nữ khán giả ngất xỉu! Các quýcô, vừa rồi Ngài Cooperđãkhiến cáccôngất xỉu chưa?”
“Chưa,” vài đứa congáiđáp lại.
“Đấy, cậu thấy chưa?” Sammy gào lên. “Nào, bắt đầu lại từ đầu!” cậu ta gào vào cái mũ lừatrêntay. “Diễn!”
Rufus vừa bước ra khỏi trạng thái mù mờ. Nó bước về phía Sammy vànói, “Valdez, taosẽ–”
Chuông kêu. Đám học sinh ùa về phía các cánh cửa. Sammy kéo Hazel tránh sangmộtbên trong khi những đứa bé – hành xử như thể bọn chúng có tên trong danh sách trả lương của Sammy – lùa Rufusđicùng bọn chúng, khiến nó bị lôi vào trong bởimộtcơn thủy triều toàn trẻ con mẫu giáo.
Chẳng mấy chốc, Sammy và Hazel chỉ còn lạimộtmình với nhau,khôngtính hai bóng ma.
Sammy lượm bữa trưa bẹp nát của Hazel lên, trình diễn động tác phủi bụi cho cái túi vải bạt của Hazel, rồi đưa nó chocôvớimộtcái cúi mình trịnh trọng, như thể đó là vương miện củacô. “Tiểu thư Lamarr.”
Hazel trong quá khứ nhận lấy túi đồ ăn trưa bị hỏng củacô. Trôngcôgiống như thểcôsắp khóc, nhưng Leokhôngđoán được đó là vìnhẹnhõm hay khổ sở hay ngưỡng mộ. “Sammy…Rufussẽgiết cậu mất.”
“À, nó đủ khôn để màkhôngchọc tới mình.” Sammy thả cái mũ lừa lêntrêncái mũ cưỡi ngựa của cậu ta. Cậu đứng thẳng và ưỡn tấm ngực gầy gò. Cái mũ lừa rớt xuống.
Hazel cười. “Trông cậuthậtlố bịch.”
“Ồ, cảm ơn, Tiểu thư Lamarr.”
“Có gì đâu,anhchàng xảo trá của tôi.“
Nụ cười của Sammy nao núng.khôngkhí trở nên trầm mặcmộtcách khó chịu. Hazel nìn chăm chăm xuống mặt đất. “Lẽ ra cậukhôngnên nhặt viên kim cương đó. Nó rất nguy hiểm.”
“A, thôi nào,” Sammynói. “khôngphải với mình!”
Hazel thận trọng quan sát cậu ta, như thểcômuốn tin điều đó. “Những chuyện xấu có thể xảy ra. Cậukhôngnên–”
“Mìnhsẽkhôngbán nó đâu,” Sammynói. “Mình hứa đấy! Mìnhsẽchỉ giữ nó làm bằng chứng cho mùi vị (flavor) của cậu thôi!”
Hazel nặn ramộtnụ cười. “Mình nghĩ ý cậu làmộtbằng chứng cho tình cảm quý mến(favor) của mình.“
“Đấy đấy! Bọn mình nênđithôi. Đến giờ cho cảnh tiếp theo của chúng ta: Hedy Lamar suýt chết vì chán trong lớp học Tiếnganhrồi.”
Sammy đưa khuỷu tay ra nhưmộtquý ông lịch thiệp, nhưng Hazel tinh nghịch đẩy cậu ra. “Cảm ơn cậu vìđãở đó, Sammy.”
“Tiểu thư Lamarr, tôisẽluôn ở bêncôkhicôcần!” cậu tươi tỉnhnói. Hai người bọn họ chạy nhanh vào lớp.
Leo cảm thấy giốngmộthồn ma hơn bao giờ hết. Có lẽ cậu vẫnđãlàmộthồn ma eidolon suốt cả đời mình, bởi vì cậu nhóc cậu vừa thấy hẳn phải là Leo xịn. Cậu ta thông minh hơn, ngầu hơn và hài hước hơn. Cậu ta giỡn hớt với Hazel tài đến nỗi hiển nhiên cậu tađãtrộm được trái tim củacô.
Chẳng trách Hazel lại nhìn Leo theo cách kì lạ như thế lúc họ mới gặp lần đầu. Chẳng trách màcôlại gọi cái tên Sammy với nhiều cảm xúc đến vậy. Nhưng Leokhôngphải là Sammy, cũng y như Rufus Đầu Bẹtkhôngphải là Clark Gable vậy.
“Hazel,” Cậunói. “anh–anhkhông— “
Sân trường nhòađithànhmộtkhung cảnh khác.
Hazel và Leo vẫn là những bóng ma, nhưng giờ họ lại đứng trướcmộtngôi nhà cũ nát bênmộtcon mương mọc đầy cỏ dại.mộtbụi chuối mọc ủ rũtrênkhoảng sân.trênbậc thang đặtmộtcái radio kiểu cổđangphát nhạc conjunto[9], vàtrênhàng hiên râm mát, ngồitrênmộtcái ghế bập bênh,mộtông già gầy gòđangnhìn về phía chân trời.
“Bọn mình ở đâu thế này?” Hazel hỏi.côvẫnđangở thể hơi, nhưng giọngnóicủacôđầy hoảng hốt. “Cái nàykhôngcó trong cuộc đời em!”
Leo cảm thấy như thể bóng ma của mìnhđangchắc lại, trở nênthậthơn. Nơi này có vẻ quen thuộcmộtcách kỳ lạ.
“Chỗ này là Houston,” cậu nhận ra. “anhbiết khung cảnh này. Con mương đó…Đây là chỗ ở cũ của mẹanh, nơi mẹ lớn lên. Đằng kia là Sân bay Hobby.”
“Đây là kí ức củaanhá?” Hazelnói. “Emkhônghiểu! Làm thế nào–?”
“Em hỏianhá?” Leo vặn lại.
Bỗng ông lão lẩm bẩm, “A, Hazel…”
Cảm giác sững sờ chạy dọc xương sống Leo. Đôi mắt của ông lão vẫn nhìn đăm đăm về phía chân trời. Sao ông lại biết họ ở đây được?
“Mình đoán chúng tađãhết thời gian rồi,” ông lão mơ màngnóitiếp. “Chà…”
Ôngkhôngnóinốt ý nghĩ đó ra.
Hazel và Leo đứng im như tượng. Ông lãokhôngtỏ thêm dấu hiệu nào rằng ông nghe thấy hay nhìn thấy họ. Leo hiểu ra là ông lão chỉđangnóichuyệnmộtmình. Vậythìsao ông lại gọi tên Hazel?
Ông lão có làn da nhăn nheo, tóc xoăn bạc trắng và đôi bàn tay sần sùi, như thể ôngđãdành cả đời làm việc trongmộtxưởng cơ khí. Ông mặcmộtcái áo sơ mi màu vàng nhạt, sạchsẽkhôngmộtvết bẩn với quần tây xám có quai đeo và giày đen được đánh kĩ.
Bất chấp tuổi tác, đôi mắt ông vẫn tinh tường và sáng trong. Ông ngồi vớimộtphong thái nghiêm trang tĩnh lặng. Trông ông rất thanh thản–thậm chí là khoái chí, như thể ôngđangnghĩ, Bố khỉ, mình sống lâu đến ngần này cơ á? Oáchthật!
Leo khá là chắc là mình chưa từng nhìn thấy ông lão này. Vậy mà sao ông lại có vẻ quen quen? Rồi cậu nhận ra ông lãođanggõ gõ ngón tay lên tay vịn chiếc ghế mà ôngđangngồi, nhưngkhôngphải gõ linh tinh. Ôngđangdùng mã Morse[10], hệt như cách mẹ Leo thường làm với cậu…và ông lãođanggõđigõ lạimộtthông điệp:anhyêuem.
Cánh cửa chớp mở ra.mộtngười phụ nữ trẻ bước ra.cômặc quần jeans vàmộtcái áo cánh màu xanh ngọc. Mái tóc đen củacôđược cắt ngắn thành những lọn lỉa chỉa. Trôngcôxinh xắn, nhưngkhônghề mong manh.côcó hai cánh tay rắn chắc và đôi bàn tay chai sạn. Cặp mắt nâu củacô, giống như đôi mắt của ông lão, lấp lánh niềm vui thích. Trong taycôômmộtđứa bé, được bọc trongmộtcái chăn màu xanh dương.
“Nhìn này, mijo[11],”cônóivới đứa bé. “Đây là bisabuelo của con đấy. Bisabuelo, ông có muốn bế békhông?”
Khi Leo nghe thấy giọngnóicủa người phụ nữ trẻ, cậu thổn thức.
Đó là mẹ cậu– trẻ hơn cậu nhớ, nhưng thựcsựcòn sống. Điều đó có nghĩa là đứa bé trong tay bà…
Ông lão nhe răng cười toe toét. Ông có những cái răng hoàn hảo, trắng tinh y như tóc ông vậy. Mặt ông đầy những nếp nhăn vì cười. “mộtđứa bé trai! Mi bebito[12], Leo!”
“Leo?” Hazelthìthào. “Đấy– đấy làanh? Bisabuelo là gì?”
Leokhôngthể tìm được giọngnóicủa mình. Là ông cố [13], Leo muốn trả lời như vậy.
Ông lão đón lấy bé Leo, cười khùng khục thích thú và cù cù cái cằm của thằng bé – và cuối cùngthìBóng Ma Leo cũng nhận ra cái mà mìnhđangnhìn thấy.
Bằng cách nào đó, khả năng về thăm lại quá khứ của Hazelđãtìm đượcsựkiên duy nhất kết nối cuộc đời hai bọn họ – nơi dòng thời gian của Leo và Hazel gặp nhau.
Người đàn ông này…
“Ôi…” Hazel có vẻ như cũng nhận ra ông là ai cùng thời điểm đó. Giọng củacôtrở nên lí nhí, chực bật khóc. “Ôi, Sammy,không…”
“A, Leo bé bỏng,” Sammy Valdez,đãhơn bảy mươi tuổi,nói. “Cháusẽlà diễn viên đóng thế của ta, hử? Người ta gọi thếthìphải, ta nghĩ vậy.nóivớicôấy giùm ta. Ta hi vọng ta có thể sống tiếp, nhưng, ây, lời nguyềnkhôngcho ta làm vậy!”
Hazel nức nở. “Gaea…Gaeanóivới em rằng cậu ấy chết vì đau tim, vào những năm 60. Nhưng đâykhôngphải – đâykhôngthể là…”
Sammy Valdez vẫnkhôngngừngnóichuyện với đứa bé, trong khi mẹ của Leo, Esperanza, nhìn họ vớimộtnụ cười đau buồn – có lẽ là hơi lo lắng rằng bisabuelo của Leođanglan man, hơi buồn vì ôngđangnóilẩn thẩn.
“Quýcôđó, Doña Callida,đãcảnh báo ta.” Sammy buồn bã lắc đầu. “côtanóimối hiểm nguy lớn với Hazelkhôngxảy đến lúc ta sống. Nhưng tađãhứa tasẽở bêncôấy. Cháu phảinóivớicôấy rằng ta xin lỗi, Leo ạ. Hãy giúpcôấy nếu cháu có thể.”
“Bisabuelo,” Esperanzanói, “chắc ông mệt rồi.”
Bà giang tay ra định đón thằng bé, nhưng ông cụ ôm nó thêmmộtlúc nữa. Leo Bé có vẻ hoàn toàn ổn với điều đó.
“nóivớicôấy là ta xin lỗi vìđãbán viên kim cươngđi, nhé?” Sammynói. “Tađãthất hứa. Lúccôấy biến mất ở Alaska…à,đãlâu lắm rồi, cuối cùng ta cũng dùng viên kim cương đó, chuyển đến Texas như ta vẫn từng mơ. Ta mở xưởng cơ khí của ta. Tạo dựng gia đình của ta!mộtcuộc đời tốt đẹp, nhưng Hazelđãđúng. Viên kim cương mangmộtlời nguyền. Takhôngbao giờ được trông thấycôấy nữa.”
“Ôi, Sammy,” Hazelnói. “không, lời nguyềnkhôngphải thứ ngăn trở mình. Mình đãmuốn quay trở lại. Mìnhđãchết!”
Ông lão chẳng có vẻ gì làđãnghe thấy. Ông cười với đứa bé, và hôn đầu thằng bé. “Ta chúc phúc cho cháu, Leo. Chắt trai lớn! Ta có cảm giác cháu là đứa bé đặc biệt, giống như Hazel. Cháu còn hơn cảmộtđứa bé bình thường, nhỉ? Cháusẽbước tiếp thay ta. Cháusẽgặpcôấymộtngày nào đó.nóixin chào vớicôấy hộ ta nhé.”
“Bisabuelo,” Esperanzanói, hơi dứt khoát hơn.
“Ừ, ừ.” Sammy cười khùng khục. “El viejo loco[14] lảm nhảm suốt ngày. Ông mệt rồi, Esperanza. Cháunóiđúng. Nhưng ôngsẽnghỉ ngơi sớm thôi.mộtcuộc đời tốt đẹp. Hãy nuôi dạy thằng bé cho tốt, nieta[15].”
Khung cảnh mờđi.
Leo lạiđangđứngtrênboong tàu Argo III, nắm tay Hazel. Mặt trờiđãlặn, và con tàu chỉ được thắp sáng bởi những lồng đèn bằng đồng. Mắt Hazel sưng húp vì khóc.
Những gì họđãthấy là quá nhiều. Đại dương nhấp nhô bên đưới họ và lúc này, lần đầu tiên trong đời Leo cảm thấy họ nhưđanghoàn toàn lênh đênh.
“Xin chào, Hazel Levesque.” cậunói, giọng khàn khàn.
Cằmcôrun rẩy.côquayđivà mở miệng muốnnóinhưng trước khicôkịp làm vậythìcon tàuđãtròng trành nghiêng sangmộtbên.
“Leo!” HLV Hedge gào lên.
Festus kêu ù ù báo động và phun lửa vào bầu trời đêm. Chuôngtrêntàu rung lên.
“Đám quái vật mà trò losẽđụng phải ấy mà?” Hedge hét lên. “mộtcon trong đám đấy tìm thấy chúng ta rồi!”
[1] buckled leather shoes
[2] mũ lưỡi trai kỵ sĩ.
[3] Segway PT (viết tắt của Segway Personal Transporter – Xe cá nhân Segway), thường được gọi tắt là Segway làmộtphương tiện giao thông cá nhân có hai bánh, hoạt độngtrêncơ chế tự cân bằng do Dean Kamen phát minh. Loại xe này được sản xuất bởi công ty Segway Inc. ở bang New Hampshire, Hoa Kỳ. Từ “Segway” phátâmgần giống với “segue” (mộttừ gốc tiếng Ý có nghĩa “di chuyểnnhẹnhàng”)
[4] dunce cone: mũ làm bằng giấy đội vào đầu những học sinh học dốt hoặc có những hành vikhôngtốt nhưmộthình phạt.
[5] gnome: các bức tượng lùn thường để trước cửa hoặc trong vườn để giữ nhà giữ vườn
[6] jujitsu: Nhu Thuật (柔術; Jujitsu, Jiu-Jitsu) làmộtdanh từ gọi chung cho nhiều môn phái võ thuật cổ truyền của người Nhật. Nhu Thuật xuất nguồn từ giai cấp võ sĩ samurai xưa ở Nhật Bản dùng taykhôngđể tự vệ và chống cự lại đối thủ có võ trang haykhôngvõ trang. Vì các samurai nhận thấy rằng phương pháp đấm đá của các bộ môn võ kháckhôngcó hiệu nghiệm khi chống lại địch thủ mặc áo giáp, họ phát minh ra phương pháp dùng quật ngã, đè, siết cổ, khóa tay, khóa chân,… để kháng cự địch thủ. Những phương pháp nàynóichung là dựatrênlý thuyết dùng sức công của đối phương để kềm chế địch thủ, thay vì chống trả trực tiếp.
[7] Hedy Lamarr và Clark Gable: hai diễn viên chính trong phim Comrade X (1940), bộ phim từng được đề cử giải Hàn Lâm cho Kịch Bản Xuất Sắc Nhất.
[8] Gary Cooper: làmộtnam diễn viên điện ảnh Mỹ. Ông nổi tiếng với phong cách diễnnhẹnhàng, trầm lặng và khả năng tự chủ, kiềm chế cảm xúc nên được coi là hình mẫu hoàn hảo cho thể loại phim câm, nhưng bên cạnh đó, ông vẫn có thể thểhiệncá tính mạnh mẽ như trongmộtsố bộ phim miền Tây ông tham gia.sựnghiệp của Cooper kéo dài từ năm 1925 cho đến tận khi ông sắp qua đời, bao gồm hơnmộttrăm bộ phim.
[9] conjunto:mộtthể loại nhạc bắt nguồn từ phía Nam Texas từ cuối thế kỉ XIX, thường có đàn bajo sexto (ghi-ta của Tây Ban Nha) và đàn accordion là nhạc cụ chính.
[10] Mã Morse hay mã Moóc-xơ, được phát minh vào năm 1835 bởi Samuel Morse, làmộtloại mã hóa ký tự dùng để truyền các thông tin điện báo. Mã Morse dùngmộtchuỗiđãđược chuẩn hóa gồm các phần tử dài và ngắn để biểu diễn các chữ cái, chữ số, dấu chấm, và các kí tự đặc biệt củamộtthông điệp. Các phần từ ngắn và dài có thể được thểhiệnbằngâmthanh, các dấu hay gạch, hoặc các xung, hoặc các kí hiệu tường được gọi là “chấm” và “gạch” hay “dot” và “dash” trong tiếnganh.
[11] Tiếng Tây Ban Nha, ghép từ ‘mi’(của tôi) và ‘hijo’(con trai) thành ‘mijo’ là ‘con tai của tôi’
[12] Tiếng Tây Ban Nha, ‘mi bebito’ tương tự ‘my baby’ trong tiếnganh, là ‘bé của tôi’
[13] Được dịch nguyên văn theo bản gốc. Thực ra từ Bisabuelo có nghĩa là ông thôi, còn từ tatarabuelo mới có nghĩa là ông cố.khôngbiết tại sao lại có nhầm lẫm như vậy, có lẽ tại tác giả. Đâykhôngphải lỗi của dịch giả))))
[14] Tiếng Tây Ban Nha: ‘El viejo loco’ có nghĩa là ‘già rồi lẩm cẩm’
[15] Tiếng Tây Ban Nha: ‘nieta’ là ‘cháugái’